Hội thoại giao tiếp tiếng Trung – Bài 39: Đừng nói “em yêu” nữa được không?

Nội dung video

大为,吃饭了。今天请你吃我做的菜。

Dà wéi, chīfàn le. Jīntiān qǐng nǐ chī wǒ zuò de cài.

Dà wéi ăn cơm thôi. Hôm nay mời anh ăn món ăn em nấu.

亲爱的,你累了一个上午,饭终于做好了。谢谢。你做了那么多好吃的,你真能干!

Qīn’ài de, nǐ lèi le yīgè shàngwǔ, fàn zhōngyú zuò hǎo le. Xièxiè. Nǐ zuò le nàme duō hào chī de, nǐ zhēn nénggàn!

Em yêu, em vất vả cả buổi sáng, cuối cùng nấu xong cơm rồi. Cảm ơn. Em làm nhiều món ngon như thế, thật giỏi.

先别夸奖,还不知道味道怎么样呢。你要多少米饭?

Xiān bié kuājiǎng, hái bù zhīdào wèidào zěnmeyàng ne. Nǐ yào duōshǎo mǐfàn?

Đừng khen nữa, vẫn chưa biết mùi vị thế nào mà. Anh muốn bao nhiêu cơm?

我一看见这么好的菜,就觉得特别饿。我要满满的一碗,可能还不够。

Wǒ yī kànjiàn zhème hǎo de cài, jiù juédé tèbié è. Wǒ yào mǎn mǎn de yī wǎn, kěnéng hái bùgòu.

Anh vừa nhìn thấy món ngon thế này, liền cảm thấy rất đói. Anh muốn một bát thật đầy, có thể vẫn chưa đủ.

你想吃多少就吃多少,米饭多得很。

Nǐ xiǎng chī duōshǎo jiù chī duōshǎo, mǐfàn duō dé hěn.

Anh muốn ăn bao nhiêu thì ăn bấy nhiêu, cơm nấu rất nhiều.

菜做得真好吃,你做菜的技术一天比一天好。特别是这个炒鸡丁,不但好吃,而且样子也很好看。这个菜比饭馆做的好得多,谢谢你,亲爱的!

Cài zuò dé zhēn hào chī, nǐ zuò cài de jìshù yītiān bǐ yītiān hǎo. Tèbié shì zhège chǎo jī dīng, bùdàn hào chī, érqiě yàngzi yě hěn hǎokàn. Zhège cài bǐ fànguǎn zuò de hǎo dé duō, xièxiè nǐ, qīn’ài de!

Món ăn rất ngon, tay nghề nấu ăn của em ngày càng tốt. Đặc biệt là món gà xào này, không chỉ ngon hơn nữa nhìn rất đẹp. Món ngon hơn ở nhà hàng nhiều. Cảm ơn em ,em yêu!

好了,别谢了。你觉得好吃,就多吃一点。

Hǎo le, bié xiè le. Nǐ juédé hào chī, jiù duō chī yīdiǎn.

Được rồi, đừng cảm ơn nữa. Anh thấy ngon thì ăn nhiều một chút.

还有,你炒的这个大虾也好吃得很。我看咱们结婚以后,可以在美国开一家饭馆,你当厨师,我当经理。咱们一定能挣很多钱。

Hái yǒu, nǐ chǎo de zhège dà xiā yě hào chī dé hěn. Wǒ kàn zánmen jiéhūn yǐhòu, kěyǐ zài měiguó kāi yījiā fànguǎn, nǐ dāng chúshī, wǒ dāng jīnglǐ. Zánmen yídìng néng zhēng hěnduō qián.

Còn nữa, món tôm em xào này cũng rất ngon. Anh thấy sau khi chúng ta kết hôn có thể mở một nhà hàng ở Mỹ, em là đầu bếp, anh là giám đốc. Chúng ta nhất định có thể kiếm được rất nhiều tiền.

哦,你是老板,让我给你打工,我可不干。

Ó, nǐ shì lǎobǎn, ràng wǒ gěi nǐ dǎgōng, wǒ kěbù gān.

Ồ, anh là ông chủ, để em làm việc cho anh hả? Em không làm.

这不是谁给谁打工,而是咱们俩分工合作。你有技术,我懂管理,咱们一起干,这有什么不好?

Zhè bùshì shéi gěi shéi dǎgōng, ér shì zánmen liǎ fēngōng hézuò. Nǐ yǒu jìshù, wǒ dǒng guǎnlǐ, zánmen yīqǐ gàn, zhè yǒu shén me bù hǎo?

Đây không phải ai làm việc cho ai mà là hai chúng ta phân công hợp tác. Em có kỹ thuật , anh biết quản lý, chúng ta cùng làm, như thế có gì không tốt?

你看,我吃完一碗了。我还想再来一碗,亲爱的!

Nǐ kàn, wǒ chī wán yī wǎn le. Wǒ hái xiǎng zàilái yī wǎn, qīn’ài de!

Em xem, anh ăn xong một bát rồi. Anh còn muốn thêm một bát nữa, em yêu.

你怎么一开口就是“亲爱的”?你真是一天比一天话多了。

Nǐ zěnme yī kāikǒu jiùshì “qīn’ài de”? Nǐ zhēnshi yītiān bǐ yītiān huà duō le.

Anh sao cứ mở miệng là ” em yêu ” thế? Anh đúng là ngày càng nhiều lời.

我怎么了?你为什么不高兴呢?你不喜欢开饭馆?说实在的,这个主意很不错啊。你知道,不少华人在美国开饭馆挣钱。再说,中国菜世界有名,让更多的西方人吃到你做的菜,更多地了解中国文化,这不挺好吗?

Wǒ zěnmele? Nǐ wèishéme bù gāoxìng ne? Nǐ bù xǐhuān kāi fànguǎn? Shuō shízài de, zhège zhǔyì hěn bùcuò a. Nǐ zhīdào, bù shǎo huárén zài měiguó kāi fànguǎn zhèng qián. Zàishuō, zhōngguó cài shìjiè yǒumíng, ràng gèng duō de xīfāng rén chī dào nǐ zuò de cài, gèng duō de liǎojiě zhōngguó wénhuà, zhè bù tǐng hǎo ma?

Anh làm sao? Vì sao em không vui? Em không muốn mở nhà hàng sao? Nói thật thì, ý kến này rất hay. Em có biết, có không ít người Hoa mở nhà hàng ở Mỹ kiếm tiền. Hơn nữa, món ăn Trung Quốc nổi tiếng thế giới, để càng nhiều người phương Tây ăn món ăn em làm, càng nhiều người hiểu được văn hóa Trung Quốc. Không phải rất tốt sao?

挣钱的方法多得很,不必都去开饭馆。我喜欢做饭菜,可是,离厨师的水平还差得远呢!厨师必须是专业学校毕业的。

Zhèng qián de fāngfǎ duō dé hěn, bú bì dōu qù kāi fànguǎn. Wǒ xǐhuān zuò fàncài, kěshì, lí chúshī de shuǐpíng hái chà dé yuǎn ne! Chúshī bìxū shì zhuānyè xuéxiào bìyè de.

Kiếm tiền có rất nhiều cách không cần mở nhà hàng. Em thích nấu ăn, nhưng còn thua trình độ của đầu bếp rất xa! Đầu bếp phải tốt nghiệp trường chuyên ngành.

还有,别总说“亲爱的”,好不好?我听着,总觉得别扭。

Hái yǒu, bié zǒng shuō “qīn’ài de”, hǎobù hǎo? Wǒ tīngzhe, zǒng juédé bièniu.

Còn nữa, đừng luôn nói ” em yêu ” được không ? Em nghe, luôn cảm thấy rất kỳ cục.

好吧,亲爱的…你看,我恐怕改不了了。可是我真不懂,你究竟为什么不愿意听这三个字呢?

Hǎo ba, qīn’ài de… nǐ kàn, wǒ kǒngpà gǎi bùliǎo le. Kěshì wǒ zhēn bù dǒng, nǐ jiùjìng wèishéme bù yuànyì tīng zhè sān gè zì ne?

Được rồi, em yêu…. Em xem , anh e rằng không sửa được. Nhưng anh thật sự không hiểu, em rốt cuộc vì sao không muốn nghe mấy chữ này?

一个12岁的男孩和一个13岁的女孩同一年上初中。男孩和女孩都不太爱说话,他们常常跟几个好朋友一起学习,一起玩儿。

Yīgè 12 suì de nánhái hé yīgè 13 suì de nǚhái tóngyī nián shàng chūzhōng. Nánhái hé nǚhái dōu bù tài ài shuōhuà, tāmen chángcháng gēn jǐ gè hǎo péngyǒu yīqǐ xuéxí, yīqǐ wánr.

Một cậu bé 12 tuổi và một cô bé 13 tuổi lên cấp 2 cùng một năm. Cậu bé và cô bé đều không thích nói chuyện, họ thường cùng mấy người bạn thân cùng nhau học tập, cùng nhau chơi.

女孩总是像姐姐一样管着男孩,男孩也非常愿意让她管。

Nǚhái zǒng shì xiàng jiějiě yīyàng guǎnzhe nánhái, nánhái yě fēicháng yuànyì ràng tā guǎn.

Cô bé luôn quản cậu bé như một người chị gái, cậu bé rất tự nguyện để cô bé quản.

三年以后,男孩和女孩都考上了高中。

Sān nián yǐhòu, nánhái hé nǚhái dōu kǎo shàngle gāozhōng.

3 năm sau, Cậu bé và cô bé đều lên cấp 3.

男孩记着女孩的生日,给她寄去了一封信,祝她生日快乐。他怕女孩生气,不敢写上自己的名字。

Nánhái jìzhe nǚhái de shēngrì, gěi tā jì qù le yī fēng xìn, zhù tā shēngrì kuàilè. Tā pà nǚhái shēngqì, bù gǎn xiě shàng zìjǐ de míngzì.

Cậu bé nhớ đến sinh nhật của cô bé, gửi cho cô bé một bức thư, chúc cô bé sinh nhật vui vẻ. Cậu bé sợ cô bé tức giận không dám viết tên của mình lên.

女孩给他回了信,也没有写自己的名字。高中比初中忙得多,她和他除了学习以外,没有想别的。

Nǚhái gěi tā huíle xìn, yě méiyǒu xiě zìjǐ de míngzì. Gāozhōng bǐ chūzhōng máng dé duō, tā hé tā chúle xuéxí yǐwài, méiyǒu xiǎng bié de.

Cô bé trả lời thư, cũng không viết tên của mình. Cuộc sống cấp 3 bận hơn cấp 2 rất nhiều, hai người ngoại trừ việc học không nghĩ gì khác.

中学毕业了,他们已经是小伙子和大姑娘了。

Zhōngxué bìyèle, tāmen yǐjīng shì xiǎohuǒzi hé dà gūniáng le.

Tốt nghiệp cấp 3, họ đã là chàng trai và cô gái rồi.

小伙子考上了北京的大学,姑娘考到上海的大学学外语。

Xiǎohuǒzi kǎo shàng le běijīng de dàxué, gūniáng kǎo dào shànghǎi de dàxué xué wàiyǔ.

Chàng trai thi đỗ Đại học Bắc Kinh, cô gái thi đỗ đại học ngoại ngữ ở Thượng Hải.

姑娘去上海的前一天晚上,小伙子来到了她家的门口,但他没敢敲门。

Gūniáng qù shànghǎi de qián yītiān wǎnshàng, xiǎohuǒzi lái dào le tā jiā de ménkǒu, dàn tā méi gǎn qiāo mén.

Một đêm trước khi cô gái đi Thượng Hải, chàng trai đến cổng nhà cô gái, nhưng cậu ấy không dám gọi cửa.

一个小伙子,去看一个姑娘,她家里人会怎么想?姑娘那天晚上也睡得很晚,她在等着他说“再见”。

yīgè xiǎohuǒzi, qù kàn yīgè gūniáng, tā jiālǐ rén huì zěnme xiǎng? Gūniáng nèitiān wǎnshàng yě shuì dé hěn wǎn, tā zài děngzhe tā shuō “zàijiàn”.

Một chàng trai đi thăm một cô gái, người nhà cô ấy sẽ nghĩ thế nào? Tối hôm đấy cô gái cũng đi ngủ rất muộn, cô ấy đang đợi nói với cậu ấy lời ” Tạm biệt “.

一个月过去了,两个月过去了。姑娘想了很多办法,才打听到了小伙子在学校的地址。

Yīgè yuè guòqù le, liǎng gè yuè guòqù le. Gūniáng xiǎng le hěnduō bànfǎ, cái dǎtīng dào le xiǎohuǒzi zài xuéxiào dì dìzhǐ.

Một tháng qua đi, hai tháng qua đi. Cô gái nghĩ rất nhiều cách mới nghe ngóng được địa chỉ trường học của chàng trai.

一天,小伙子突然收到了一封信,是姑娘写来的!信上只有一句话:

Yītiān, xiǎohuǒzi túrán shōu dàole yī fēng xìn, shì gūniáng xiě lái de! Xìn shàng zhǐyǒu yījù huà:

Một ngày, chàng trai bỗng nhiên nhận được một bức thư, là cô gái gửi đến! Trong thư chỉ có một câu :

祝贺你开始大学生活。小伙子高兴得像疯了一样,他每天早上、中午、晚上都要在宿舍里读一遍。

Zhùhè nǐ kāishǐ dàxué shēnghuó. Xiǎohuǒzi gāoxìng dé xiàng fēng le yíyàng, tā měitiān zǎoshang, zhōngwǔ, wǎnshàng dōu yào zài sùshè lǐ dú yībiàn.

Chúc mừng cậu bắt đầu cuộc sống sinh viên. Chàng trai vui giống như điên vậy, cậu ấy mỗi buổi sáng, buổi trưa, buổi tối đều ở trong kí túc xá đọc một lần.

第二年,姑娘病了,要休息一年。她一个人回到家里,谁也没有告诉。小伙子一封一封的信寄到她学校,但都没有回信。

Dì èr nián, gūniáng bìng le, yào xiūxi yī nián. Tā yīgè rén huí dào jiālǐ, shéi yě méiyǒu gàosù. Xiǎohuǒzi yī fēng yī fēng de xìn jì dào tā xuéxiào, dàn dōu méiyǒu huíxìn.

Năm thứ 2, cô gái bị bệnh, phải nghỉ ngơi một năm. Cô ấy trở về nhà một mình, không thông báo cho ai. Chàng trai gửi từng bức thư đến trường cô gái, nhưng không nhận được thư trả lời.

她为什么不回信呢?姑娘究竟怎么了?

Tā wèishéme bù huíxìn ne? Gūniáng jiùjìng zěnmele ?

Cô ấy vì sao không trả lời thư? Cô gái rốt cuộc làm sao?

小伙子一天比一天瘦了。一年以后姑娘的病好了,又回到了学校,小伙子才等到了姑娘的回信。

Xiǎohuǒzi yītiān bǐ yītiān shòu le. Yī nián yǐhòu gūniáng de bìng hǎo le, yòu huí dàole xuéxiào, xiǎohuǒzi cái děng dào le gūniáng de huíxìn.

Chàng trai ngày một gầy đi. Một năm sau cô gái khỏi bệnh rồi, lại quay về trường học, chàng trai mới đợi được thư trả lời của cô gái.

他们在信中谈生活、谈学习、谈世界大事,但是他们没有说过一个“爱”字。

Tāmen zài xìn zhōng tán shēnghuó, tán xuéxí, tán shìjiè dàshì, dànshì tāmen méiyǒu shuōguò yīgè “ài” zì.

Trong thư họ nói chuyện về cuộc sống, nói chuyện học tập, nói chuyện đại sự thế giới nhưng mà họ chưa từng nói một chữ ” Yêu ” .

在小伙子的心里,姑娘是他的理想,是他的梦;他也能在姑娘平平常常的信里读懂她的心。

Zài xiǎohuǒzi de xīnlǐ, gūniáng shì tā de lǐxiǎng, shì tā de mèng; tā yě néng zài gūniáng píngpíng chángcháng de xìnlǐ dú dǒng tā de xīn.

Trong tim chàng trai, cô gái là lý tưởng, là ước mơ của cậu ấy; cậu ấy cũng có thể từ các bức thư hiểu được trái tim của cô gái.

小伙子比姑娘早一年毕业,他在忙着考研究生。姑娘因为实习总也没有时间回家。

Xiǎohuǒzi bǐ gūniáng zǎo yī nián bìyè, tā zài mángzhe kǎo yánjiūshēng. Gūniáng yīnwèi shíxí zǒng yě méiyǒu shíjiān huí jiā.

Chàng trai tốt nghiệp sớm hơn cô gái 1 năm, chàng trai bận thi nghiên cứu sinh. Cô gái vì thực tập cũng luôn không có thời gian về nhà.

小伙子成了上海一所大学的研究生。那一年的暑假,他们终于见面了。

Xiǎo huǒ zǐ chéng le shànghǎi yī suǒ dàxué de yánjiūshēng. Nà yī nián de shǔjià, tāmen zhōngyú jiànmiàn le.

Chàng trai trở thành nghiên cứu sinh ở trường đại học ở Thượng Hải. Nghỉ hè năm đấy, học cuối cùng đã gặp nhau.

小伙子看着这个又高又美的姑娘,心里有很多话要说,但是一句也说不出来。他连跟姑娘握一握手也忘了。

Xiǎohuǒzi kànzhe zhège yòu gāo yòu měide gūniáng, xīnlǐ yǒu hěnduō huà yào shuō, dànshì yījù yě shuō bù chūlái. Tā lián gēn gūniáng wò yī wòshǒu yě wàng le.

Chàng trai nhìn thấy cô gái vừa cao vừa xinh đẹp, có rất nhiều lời muốn nói, nhưng một câu cũng không nói ra được. Chàng trai đến bắt tay cùng cô gái cũng quên mất.

那个暑假,他们天天在一起聊天,一起散步,一起去公园。

Nàgè shǔjià, tāmen tiāntiān zài yīqǐ liáotiān, yīqǐ sànbù, yīqǐ qù gōngyuán.

Kỳ nghỉ hè đấy, bọn họ ngày ngày đều cùng nhau trò chuyện, cùng nhau đi dạo, cùng nhau đi công viên.

一天,小伙子终于对姑娘说了,他心里有一个字,一个最珍贵的字。这个字跟着他到今天……

Yītiān, xiǎohuǒzi zhōngyú duì gūniáng shuō le, tā xīnlǐ yǒu yīgè zì, yīgè zuì zhēnguì de zì. Zhège zì gēnzhe tā dào jīntiān……

Một ngày, chàng trai cuối cùng đã nói với cô gái, trong tim chàng trai có một chữ, một chữ đáng quý nhất. Chữ này đi theo cậu ấy đến ngày hôm nay……

王小云说,这是三十多年前的故事了。故事里的姑娘是她妈妈,小伙子就是她爸爸。

Wángxiǎoyún shuō, zhè shì sānshí duō nián qián de gùshì le. Gùshì lǐ de gūniáng shì tā māmā, xiǎohuǒzi jiùshì tā bàba.

Vương Tiểu Vân nói, đây là câu chuyện của hơn 30 năm trước. Cô gái trong câu chuyện là mẹ của cô ấy, chàng trai chính là bố của cô ấy.

HỌC TIẾNG TRUNG Ở ĐÂU UY TÍN TẠI HÀ NỘI?

Gọi điện ngay để tham gia học cùng Tiếng Trung Vui Vẻ!
Hotline: 0984.413.615
Địa chỉ: Số 10a, ngõ 196/8/2 Cầu Giấy, Hà Nội
Website: tiengtrungvuive.edu.vn
Fanpage: Trung tâm Tiếng Trung Vui Vẻ

Bài viết liên quan

Bình luận