Hội thoại giao tiếp tiếng Trung – Bài 42: Người nông thôn

Nội dung video

欢迎杰克和玉兰回家过春节。咱们全家人能在一起吃年夜饭,我跟你妈特别高兴。来,咱们先干一杯!

Huānyíng jiékè hé yùlán huí jiāguò chūnjié. Zánmen quánjiā rén néng zài yīqǐ chī nián yèfàn, wǒ gēn nǐ mā tèbié gāoxìng. Lái, zánmen xiān gàn yībēi!

Hoan nghênh jiékè và Ngọc Lan về nhà đón năm mới. Cả nhà chúng ta có thể cùng nhau ăn bữa cơm tất niên, bố và mẹ con rất vui. Nào, chúng ta cạn ly.

好,好。恭喜恭喜!祝你们新年万事如意。

Hǎo, hǎo. Gōngxǐ gōngxǐ! Zhù nǐmen xīnnián wànshì rúyì.

Đúng. Chúc mừng chúc mừng! Chúc các con năm mới vạn sự như ý.

杰克,你要是觉得别扭,就还叫我先生,叫她太太。怎么叫都行,这没什么,我知道你们有你们的习惯。

Jiékè, nǐ yàoshi juédé bièniu,jiù hái jiào wǒ xiānshēng, jiào tā tàitài. Zěnme jiào dōu xíng, zhè méishénme, wǒ zhīdào nǐmen yǒu nǐmen de xíguàn.

jiékè. Nếu như con cảm thấy chưa quen thì hãy gọi ta là tiên sinh, gọi bà ấy là bà. Gọi thế nào đều được, không sao, bố biết các con có thói quen của các con.

您不会生气吧?

Nín bù huì shēngqì ba?

Mẹ sẽ không giận chứ?

你说到哪里去了?我不但不生气, 反而挺高兴。我也成“太太”了!吃菜,吃菜,要不,菜就凉了。

Nǐ shuō dào nǎlǐ qù le? Wǒ bùdàn bù shēngqì, fǎn’ér tǐng gāoxìng. Wǒ yě chéng “tàitài”le! Chī cài, chī cài, yào bù, cài jiù liáng le.

Con nói đi đâu thế ? Mẹ không chỉ không giận, mà còn rất vui đấy. Mẹ cũng thành ” Bà ” rồi ! Ăn cơm thôi, nếu không đồ ăn nguội mất.

你尝尝这个红烧鱼。

Nǐ cháng cháng zhège hóngshāo yú.

Anh thử xem món cá kho này.

杰克,我们吃年夜饭的时候,除了鸡和肉以外,总要有一条鱼,你知道这是为什么?

Jiékè, wǒmen chī nián yèfàn de shíhòu, chú le jī hé ròu yǐwài, zǒng yào yǒu yītiáo yú, nǐ zhīdào zhè shì wèishéme?

jiékè. Lúc chúng ta ăn bữa cơm tất niên, ngoài gà và thịt ra, luôn phải có một con cá, con biết vì sao không?

鸡、鸭、鱼、肉都是好吃的菜啊,难道还有别的意思吗?

Jī, yā, yú, ròu dōu shì hǎo chī de cài a, nándào huán yǒu bié de yìsi ma?

Gà, vịt, cá, thịt đều là món ăn ngon , lẽ nào còn có ý nghĩa khác sao?

有啊。因为“鱼”的发音跟结余的“余”一样,“有鱼”就成了“有余”,意思是希望在新的一年里大家生活得更好,家家都“有余”。

Yǒu a. Yīnwèi “yú” de fǎ yīn gēn jiéyú de “yú” yīyàng,“yǒuyú” jiù chéngle “yǒuyú”, yìsi shì xīwàng zài xīn de yī nián lǐ dàjiā shēnghuó dé gèng hǎo, jiā jiā dōu “yǒuyú”.

Có chứ. Bởi vì phát âm (cá) ” /yú /” giống với từ ” 余” (dư) /yú / “有鱼” ( có cá) sẽ thành “有余” ( có dư )*, ý nghĩa là hi vọng trong năm mới mọi người có cuộc sống tốt hơn, nhà nhà đều ” 有余” (dư giả ).

哦,我知道了。有的人喜欢手机号码、汽车号码带“8”这个字,不是“188”,就是“518”,可能也是这个想法吧?

Wǒ zhīdào le. Yǒu de rén xǐhuān shǒujī hàomǎ, qìchē hàomǎ dài “8” zhège zì, búshì “188”, jiùshì “518”, kěnéng yěshì zhège xiǎngfǎ ba?

Anh biết rồi. Có người thích số điện thoại, số xe có số 8 /Bā/, không phải 188, thì là 518, có thể cũng là có cách nghĩ này hả ?

对啊。因为有些南方人念“8”跟念“发财”的“发”声音差不多,念“5”跟念“我”也差不多。所以“188”和“518”就成了“要发发” 和“我要发”。

Duì a. Yīnwèi yǒuxiē nánfāng rén niàn “8” gēn niàn “fācái” de “fā” shēngyīn chàbùduō, niàn “5” gēn niàn “wǒ” yě chàbùduō. Suǒyǐ “188” hé “518” jiù chéng le “yào fāfā” hé “wǒ yào fā”.

Đúng thế. Bởi vì có một số người phương Nam đọc ” /Bā/ ” (8) gần giống âm với đọc ” /Fācái/” ( phát tài ), đọc “/Wǔ/” (5) và “/Wǒ/” ( tôi) cũng gần giống nhau. Vì thế “188” và “518” sẽ trở thành ” sắp phát tài ” và ” tôi sắp phát tài”.

他们希望“发”,所以喜欢“8”。后来,别的地方的人也这样做了。

Tāmen xīwàng “fā”, suǒyǐ xǐhuān “8”. Hòulái, bié de dìfāng de rén yě zhèyàng zuò le.

Họ hi vọng ” phát tài ” vì thế thích số “8”. Sau đó, người ở nơi khác cũng làm như thế.

咱们的洋姑爷还知道不少中国的事儿呢。吃完了年夜饭,咱们一边看电视,一边包饺子.

Zánmen de yáng gūyé hái zhīdào bù shǎo zhōngguó de shìr ne. Chī wán le nián yèfàn, zánmen yībiān kàndiànshì, yībiān bāo jiǎozi.

Con rể của chúng ta còn biết không ít chuyện của Trung Quốc nhỉ. Ăn xong bữa cơm tất niên chúng ta vừa xem ti vi, vừa gói sủi cảo.

都吃完晚饭了,为什么还包饺子?难道还有客人要来吗?

Dōu chī wán wǎnfàn le, wèishéme hái bāo jiǎozi? Nándào hái yǒu kèrén yào lái ma?

Đã ăn xong cơm tối rồi vì sao vẫn gói sủi cảo ạ ? Lẽ nào còn có khách đến sao?

这是咱们北方的风俗。今天除夕,旧的一年快要过去,新的一年就要开始,所以家家都睡得很晚,这叫“守岁”。

Zhè shì zánmen běifāng de fēngsú. Jīntiān chúxì, jiù de yī nián kuàiyào guòqù, xīn de yī nián jiù yào kāishǐ, suǒyǐ jiā jiā dōu shuì dé hěn wǎn, zhè jiào “shǒusuì”.

Đây là phong tục của Phương Bắc chúng ta. Hôm nay giao thừa, sắp hết năm cũ rồi, năm mới sắp bắt đầu, vì thế nhà nhà đều ngủ rất muộn, đây gọi là ” đón giao thừa “.

守岁的时候,北方人一般要包很多饺子,好在新年慢慢地吃。

Shǒusuì de shíhòu, běifāng rén yībān yào bāo hěnduō jiǎozi, hǎo zài xīnnián màn man de chī.

Lúc đón giao thừa, người phương Bắc thường gói rất nhiều sủi cảo, đến năm mới ăn dần.

杰克可不会包饺子。杰克,守岁的时候,你干什么呢?

Jiékè kěbù huì bāo jiǎozi. Jiékè, shǒusuì de shíhòu, nǐ gànshénme ne?

jiékè không biết gói sủi cảo đâu. jiékè lúc đón giao thừa, anh làm gì?

我随便,我觉得干什么都很有意思,应该入乡随俗。

Wǒ suíbiàn, wǒ juédé gànshénme dōu hěn yǒuyìsi, yīnggāi rùxiāngsuísú.

Anh còn tùy, anh cảm thấy làm gì đều rất thú vị, nên Nhập gia tùy tục.

不会包饺子没关系,让他跟孩子们一起到外边去放鞭炮。

Bú huì bāo jiǎozi méiguānxì, ràng tā gēn háizimen yīqǐ dào wàibian qù fàng biānpào.

Không biết gói sủi cảo không sao, để cậu ấy và trẻ con cùng ra bên ngoài đi đốt pháo.

那他太高兴了。北京城里禁止放鞭炮,城里人过春节越来越简单,哪儿有农村热闹?

Nà tā tài gāoxìng le. Běijīng chéng lǐ jìnzhǐ fàng biānpào, chéng lǐ rénguò chūnjié yuè lái yuè jiǎndān, nǎr yǒu nóngcūn rènào?

Vậy anh ấy vui quá rồi. Ở thành phố Bắc Kinh cấm đốt pháo, người thành phố đón năm mới ngày càng đơn giản, không náo nhiệt như ở nông thôn.

现在春节放长假,怪不得很多城里人不是到外地去旅行,就是到农村来过节。

Xiànzài chūnjié fàng chángjià, guàibùdé hěnduō chéng lǐ rén bùshì dào wàidì qù lǚxíng, jiùshì dào nóngcūn lái guòjié.

Bây giờ năm mới được nghỉ dài, chả trách rất nhiều người thành phố không phải đi vùng khác du lịch, thì là về nông thôn đón năm mới.

我们这儿不但不禁止放鞭炮,反而放得比以前更多了。

Wǒmen zhèr bùdàn bù jīn zhǐ fàng biānpào, fǎn’ér fàng dé bǐ yǐqián gèng duō le.

Chúng ta ở đây không những không cấm đốt pháo, mà còn đốt nhiều hơn trước rất nhiều.

今年咱们家就买了不少大鞭炮、小鞭炮,到12点的时候,你们去放吧。

Jīnnián zánmen jiā jiù mǎi le bù shǎo dà biānpào, xiǎo biānpào, dào 12 diǎn de shíhòu, nǐmen qù fàng ba.

Năm nay nhà chúng ta mua không ít pháo lớn, pháo nhỏ, lúc đến 12 giờ các con đi đốt pháo đi.

现在我们农村过春节是比城里热闹得多。除了吃年夜饭以外,我们还写春联、贴窗花、扭秧歌,还有各种表演和比赛。

Xiànzài wǒmen nóngcūn guò chūnjié shì bǐ chéng lǐ rènào dé duō. Chú le chī nián yèfàn yǐwài, wǒmen hái xiě chūnlián, tiē chuānghuā, niǔyānggē, hái yǒu gè zhǒng biǎoyǎn hé bǐsài.

Bây giờ nông thôn chúng ta đón năm mới náo nhiệt hơn thành phố rất nhiều. Ngoại trừ ăn cơm tất niên, chúng ta còn viết câu đối Xuân, dán hoa giấy, khiêu vũ, còn có các màn biểu diễn và cuộc thi khác.

你们就在这儿多住几天吧,看看我们村是不是也可以发展旅游事业,尤其是文化旅游。

Nǐmen jiù zài zhèr duō zhù jǐ tiān ba, kànkàn wǒmen cūn shì bùshì yě kěyǐ fāzhǎn lǚyóu shìyè, yóuqí shì wénhuà lǚyóu.

Các con ở đây thêm vài ngày xem xem thôn chúng ta có phải cũng có thể phát triển ngành du lịch không, đặc biệt là du lịch văn hóa.

今年春节,我们在郊区农村盖了一个四合院。

Jīnnián chūnjié, wǒmen zài jiāoqū nóngcūn gài le yīgè sìhéyuàn.

Mùa xuân năm nay chúng tôi ở ngoại ô nông thôn xây một căn tứ hợp viện.

一个星期六,我们装了满满一卡车的木头和水泥,准备送过去装修我们的新房子。

Yīgè xīngqīliù, wǒmen zhuāng le mǎnmǎn yī kǎchē de mùtou hé shuǐní, zhǔnbèi sòng guòqù zhuāngxiū wǒmen de xīn fángzi.

Một ngày thứ 7, chúng tôi xếp một xe tải đầy gỗ và xi măng, chuẩn đi được chở đến sửa chữa căn nhà mới của chúng tôi.

我们到了村子里的时候,家家都开始做晚饭了。邻居们听到汽车的声音都走了出来,远远地站着,好奇地看着我们。

Wǒmen dào le cūnzi lǐ de shíhòu, jiā jiā dōu kāishǐ zuò wǎnfàn le. Línjūmen tīng dào qìchē de shēngyīn dōu zǒu le chūlái, yuǎn yuǎn de zhànzhe, hàoqí de kànzhe wǒmen.

Lúc chúng tôi đến trong thôn nhà nhà đều bắt đầu nấu cơm tối. Hàng xóm nghe thấy tiếng xe ô tô đều đi ra ngoài , đứng từ xa, háo kỳ nhìn chúng tôi.

我和丈夫跳下车来就忙着搬木头,想快点儿把东西卸完,好让司机回城去。

Wǒ hé zhàngfū tiào xià chē lái jiù mángzhe bān mùtou, xiǎng kuài diǎnr bǎ dōngxī xiè wán, hǎo ràng sījī huí chéng qù.

Tôi và chồng nhảy xuống xe liền bận rộn chuyển gỗ, muốn nhanh chóng xếp xong đồ, để ô tô trở về thành phố.

我们在城市生活久了,已经不太习惯干重活了。刚搬了两趟,我们俩就累得走不动了。

Wǒmen zài chéngshì shēnghuó jiǔ le, yǐjīng bù tài xíguàn gàn zhònghuó le. Gāng bān le liǎng tàng, wǒmen liǎ jiù lèi dé zǒu bù dòng le.

Chúng tôi sống trong thành phố lâu rồi đã trở nên không quen làm việc nặng. Vừa chuyển được 2 chuyến, hai chúng tôi đều mệt không đi được nữa rồi

邻居们不但没有笑话我们,反而围了过来想帮助我们,可是又不知道我们会怎么想,他们好像有些犹豫。

Línjūmen bùdàn méiyǒu xiàohuà wǒmen, fǎn’ér wéi le guòlái xiǎng bāngzhù wǒmen, kěshì yòu bù zhīdào wǒmen huì zěnme xiǎng, tāmen hǎoxiàng yǒuxiē yóuyù.

Hàng xóm không chỉ không chê cười chúng tôi,  mà còn vây lại muốn giúp đỡ chúng tôi, nhưng lại không biết chúng tôi nghĩ thế nào, họ dường như có chút do dự.

一个小伙子开玩笑地说:

Yīgè xiǎohuǒzi kāiwánxiào de shuō:

Một chàng trai nói đùa:

怎么了?难道你们俩打算干到明天吗?你们这么干,即使干到明天早上,恐怕也干不完!

Zěnmele? Nándào nǐmen liǎ dǎsuàn gān dào míngtiān ma? Nǐmen zhème gàn, jíshǐ gān dào míngtiān zǎoshang, kǒngpà yě gān bù wán!

Sao thế? Lẽ nào hai người định làm đến ngày mai sao? Hai người làm như thế, cho dù làm đến sáng mai e là cũng không làm xong.

大家听了都笑起来了。我靠在车上,也跟着他们一起笑。

Dàjiā tīng le dōu xiào qǐlái le. Wǒ kào zài chē shàng, yě gēnzhe tāmen yīqǐ xiào.

Mọi người nghe xong đều cười rộ lên. Tôi dựa vào xe, cũng cười lên cùng họ.

那个小伙子看我们俩也跟着笑,就接着说:

Nàgè xiǎohuǒzi kàn wǒmen liǎ yě gēnzhe xiào, jiù jiēzhe shuō:

Chàng trai đó nhìn thấy chúng tôi cười liền nói tiếp :

“你们检查一下,有什么重要的东西没有?要是有,就先把它收好。”

“Nǐmen jiǎnchá yīxià, yǒu shénme zhòngyào de dōngxī méiyǒu? Yàoshi yǒu, jiù xiān bǎ tā shōu hǎo.”

Hai người kiểm tra một chút, có thứ gì quan trọng không? Nếu như có thì cất đi.

然后又对大家说:” 别站着看了,大家帮帮忙吧!”

Ránhòu yòu duì dàjiā shuō:”Bié zhànzhe kàn le, dàjiā bāng bāngmáng ba!”

Sau đó chàng trai lại nói với mọi người: ” Đừng đứng nhìn nữa, mọi người giúp đỡ đi”

邻居们马上推出了自己的小车,就帮我们干起来。他们干得又快又好,不到一个小时,就把一卡车的东西卸完了,整整齐齐地摆在院子里。

Línjūmen mǎshàng tuīchū le zìjǐ de xiǎochē, jiù bāng wǒmen gàn qǐlái. Tāmen gàn dé yòu kuài yòu hǎo, bù dào yīgè xiǎoshí, jiù bǎ yī kǎchē de dōngxī xiè wánle, zhěng zhěngqí qí de bǎi zài yuànzi lǐ.

Hàng xóm liền đẩy xe nhỏ của mình, liền giúp chúng tôi làm. Họ làm vừa nhanh vừa tốt, chưa đến một giờ liền sắp xếp xong cả xe đồ rồi, tất cả đặt ngăn nắp trong sân.

司机把汽车开走了,邻居们也拍拍衣服,准备回去。我连忙跟丈夫商量,应该给每个人多少报酬。

Sījī bǎ qìchē kāi zǒu le, línjūmen yě pāi pāi yīfú, zhǔnbèi huíqù. Wǒ liánmáng gēn zhàngfū shāngliàng, yīnggāi gěi měi gèrén duōshǎo bàochóu.

Tài xế lái xe đi, hàng xóm cũng vuốt vuốt quần áo, chuẩn bị về. Tôi liền bàn bạc với chồng nên trả cho mỗi người bao nhiêu tiền công.

邻居们听说要给钱,都急着推车往外走,不管我们怎么说,他们都不听。

Línjūmen tīng shuō yào gěi qián, dōu jízhuó tuī chē wǎngwài zǒu, bùguǎn wǒmen zěnme shuō, tāmen dōu bù tīng.

Hàng xóm nghe nói muốn đưa tiền, đều nhanh chóng đẩy xe ra bên ngoài, cho dù chúng tôi nói gì họ đều không nghe.

尤其是那小伙子,他一边走还一边说:

Yóuqí shì nà xiǎohuǒzi, tā yībiān zǒu huán yībiān shuō:

Đặc biệt là chàng trai kia cậu ta vừa đi vừa nói:

“你们城里人,什么事儿都讲钱!家里饭都凉了,我们该回家吃饭了。

“Nǐmen chéng lǐ rén, shénme shìr dōu jiǎng qián! Jiālǐ fàn dōu liáng le, wǒmen gāi huí jiā chīfàn le.

Người thành phố các người, chuyện gì đều nói tiền bạc!  Cơm ở nhà sắp nguội rồi, chúng tôi phải về ăn cơm đây.

以后咱们都是邻居了,要是你们有什么事儿,就说一声,别客气⋯⋯”

Yǐhòu zánmen dōu shì línjū le, yàoshi nǐmen yǒu shénme shìr, jiù shuō yīshēng, bié kèqì ⋯⋯”

Sau này chúng ta đều là hàng xóm rồi, nếu như hai người có chuyện gì, thì nói một tiếng, đừng khách khí…

他们都走了,我们俩坐在院子里休息。我对丈夫说:

Tāmen dōu zǒu le, wǒmen liǎ zuò zài yuànzi lǐ xiūxi. Wǒ duì zhàngfū shuō:

Họ đều đi rồi, hai chúng tôi ngồi trong sân nghỉ ngơi. Tôi nói với chồng:

“在城里的大楼里,邻居们谁也不认识谁;可是今天在村里我又感觉到了‘远亲不如近邻’。”

“Zài chéng lǐ de dàlóu lǐ, línjūmen shéi yě bù rènshì shéi; kěshì jīntiān zài cūnlǐ wǒ yòu gǎnjué dào le ‘yuǎnqīn bùrú jìnlín’.”

” Ở trong nhà tầng thành phố, hàng xóm ai cũng không quen biết ai, nhưng hôm nay đến nông thôn em mới cảm nhận được anh em xa không bằng láng giềng gần “

HỌC TIẾNG TRUNG Ở ĐÂU UY TÍN TẠI HÀ NỘI?

Gọi điện ngay để tham gia học cùng Tiếng Trung Vui Vẻ!
Hotline: 0984.413.615
Địa chỉ: Số 10a, ngõ 196/8/2 Cầu Giấy, Hà Nội
Website: tiengtrungvuive.edu.vn
Fanpage: Trung tâm Tiếng Trung Vui Vẻ

Bài viết liên quan

Bình luận