Hội thoại giao tiếp tiếng Trung – Bài 47: Sinh viên đi làm thêm

Nội dung video

中国的大学生打工吗?

Zhōngguó de dàxuéshēng dǎgōng ma?

Sinh viên đại học Trung Quốc có đi làm thêm không?

打工。不过,过去的大学生基本上不打工,最近一二十年,打工的学生多起来了。

Dǎgōng. Bùguò, guòqù de dàxuéshēng jīběn shàng bù dǎgōng, zuìjìn yī’èrshí nián, dǎgōng de xuéshēng duō qǐlái le.

Có. Nhưng sinh viên đại học trước đây vốn dĩ không đi làm thêm, 10,20 năm gần đây, sinh viên đi làm thêm ngày càng nhiều.

这就奇怪了。我听说在实行改革开放以前,中国人的生活水平比现在低多了,很多大学生的经济条件也不太好。他们既然经济有困难,就应该去打工啊。

Zhè jiù qíguài le. Wǒ tīng shuō zài shíxíng gǎigé kāifàng yǐqián, zhōngguó rén de shēnghuó shuǐpíng bǐ xiànzài dī duō le, hěnduō dàxuéshēng de jīngjì tiáojiàn yě bù tài hǎo. Tāmen jìrán jīngjì yǒu kùnnán, jiù yīnggāi qù dǎgōng a.

Thế thì lạ rồi. Tớ nghe nói trước khi tiến hành cải cách mở cửa, mức sống của người Trung Quốc thấp hơn bây giờ nhiều, điều kiện kinh tế của rất nhiều sinh viên cũng không tốt. Họ đã có khó khăn về kinh tế, thì nên đi làm thếm chứ ?

那时候大学生不打工的原因很多:

Nà shíhòu dàxuéshēng bù dǎgōng de yuányīn hěnduō:

Lúc đó nguyên nhân sinh viên không đi làm thêm rất nhiều:

第一,过去上大学,学生不用交学费。家庭经济困难的学生还可以得到国家的帮助,他们吃、住基本上没有问题。

Dì yī, guòqù shàng dàxué, xuéshēng bùyòng jiāo xuéfèi. Jiātíng jīngjì kùnnán de xuéshēng hái kěyǐ dédào guójiā de bāngzhù, tāmen chī, zhù jīběn shàng méiyǒu wèntí.

Thứ nhất, trước đây lên đại học, sinh viên không cần đóng học phí. Sinh viên có kinh tế gia đình khó khăn còn có thể có sự giúp đỡ của nhà nước, họ ăn, ở về cơ bản không có vấn đề gì.

第二,中国的父母一般都希望把自己的孩子培养成为大学生,而且他们认为孩子在正式工作以前,无论岁数多大,生活上都应该由父母来负担。

Dì èr, zhōngguó de fùmǔ yībān dōu xīwàng bǎ zìjǐ de háizi péiyǎng chéngwéi dàxuéshēng, érqiě tāmen rènwéi háizi zài zhèngshì gōngzuò yǐqián, wúlùn suìshu duōdà, shēnghuó shàng dōu yīnggāi yóu fùmǔ lái fùdān.

Thứ hai, phụ huynh Trung Quốc thường đều hi vọng bồi dưỡng con cái của mình trở thành sinh viên đại học, hơn nữa họ cho rằng trước khi con cái chính thức làm việc, cho dù bao nhiêu tuổi, cuộc sống đều nên do bố mẹ chịu trách nhiệm.

所以大学生在经济上还要靠父母来支持,中国的父母也愿意想办法支持孩子上学。

Suǒyǐ dàxuéshēng zài jīngjì shàng hái yào kào fùmǔ lái zhīchí, zhōngguó de fùmǔ yě yuànyì xiǎng bànfǎ zhīchí háizi shàngxué.

Vì thế sinh viên về kinh tế vẫn phải dựa vào bố mẹ giúp đỡ, phụ huynh Trung Quốc cũng đồng ý nghĩ cách giúp đỡ con cái vào đại học.

第三,人们认为,对大学生来说,主要的时间都应该用于学习,这个时候,他们不应该自己去挣钱。

Dì sān, rénmen rènwéi, duì dàxuéshēng lái shuō, zhǔyào de shíjiān dōu yīnggāi yòng yú xuéxí, zhège shíhòu, tāmen bù yìng gāi zìjǐ qù zhèng qián.

Thứ ba, mọi người cho rằng, đối với sinh viên mà nói thời gian chủ yếu đều nên dùng vào học tập, lúc này họ không nên tự đi kiếm tiền.

他们认为打工会影响学习。

Tāmen rènwéi dǎgōng huì yǐngxiǎng xuéxí.

Họ cho rằng đi làm thêm sẽ ảnh hưởng học tập.

除了上边我说的那些原因之外,还有一个重要原因是:即使你想去打工,也没有单位用你。

Chúle shàngbian wǒ shuō de nàxiē yuányīn zhī wài, hái yǒu yīgè zhòngyào yuányīn shì: Jíshǐ nǐ xiǎng qù dǎgōng, yě méiyǒu dānwèi yòng nǐ.

Trừ những nguyên nhân tớ đã nói ở trên, còn có một nguyên nhân quan trọng là: Cho dù cậu muốn đi làm thêm, cũng không có nơi nào nhận.

是不是因为中国劳动力太多了?

Shì bùshì yīn wèi zhōngguó láodònglì tài duō le?

Có phải vì lực lượng lao động Trung Quốc nhiều quá ?

不完全是。那时候,无论国营企业,还是集体企业,工作岗位和工资都是由国家来计划的。在这种情况下,你去打工,单位没办法付给你工资。

Bù wánquán shì. Nà shíhòu, wúlùn guóyíng qǐyè, háishì jítǐ qì yè, gōngzuò gǎngwèi hé gōngzī dōu shì yóu guójiā lái jìhuà de. Zài zhè zhǒng qíngkuàng xià, nǐ qù dǎgōng, dānwèi méi bànfǎ fù gěi nǐ gōngzī.

Không hẳn. Lúc đó, cho dù là doanh nghiệp trong nước hay là doanh nghiệp tập thể cương vị làm việc và tiền lương đều do nhà nước tính toán. Với tình hình này, cậu đi làm thêm, cơ quan không có cách nào trả tiền lương cho cậu.

可是我在书上看到过,以前是不是也有大学生去工厂和农村劳动吗?

Kěshì wǒ zài shū shàng kàn dàoguò, yǐqián shì bú shì yěyǒu dàxuéshēng qù gōngchǎng hé nóngcūn láodòng ma?

Nhưng tớ đã thấy trong sách, trước đây không phải cũng có sinh viên đi lao động ở công trường và nông thôn sao?

是有。不过,那时候他们无论去工厂干活,还是去农场干活,都是义务劳动,没有报酬。

Shì yǒu. Bùguò, nà shíhòu tāmen wúlùn qù gōngchǎng gàn huó, háishì qù nóngchǎng gàn huó, dōu shì yìwù láodòng, méiyǒu bàochóu.

Có. Nhưng, lúc đó dù họ đi công trường làm việc, hay đi nông thôn làm việc, đều là lao động nghĩa vụ, không có tiền công.

那么,现在的大学生都打工吗?

Nàme, xiànzài de dàxuéshēng dōu dǎgōng ma?

Vậy, sinh viên bây giờ đều đi làm thêm sao?

这很难说,可能大部分都打工。拿我来说,我也在打工。

Zhè hěn nánshuō, kěnéng dà bùfèn dōu dǎgōng. Ná wǒ lái shuō, wǒ yě zài dǎgōng.

Điều này rất khó nói, có thể hầu hết đều đi làm thêm. Ví dụ như tớ, tớ cũng đi làm thêm.

你既然也在打工,就给我介绍一下中国大学生打工的情况吧。你们都干些什么工作呢?

Nǐ jìrán yě zài dǎgōng, jiù gěi wǒ jièshào yīxià zhōngguó dàxuéshēng dǎgōng de qíngkuàng ba. Nǐmen dōu gàn xiē shénme gōngzuò ne?

Cậu cũng đã đi làm thêm, thì giới thiệu cho tớ tình hình sinh viên Trung Quốc đi làm thêm đi. Các cậu làm những việc gì?

干什么的都有:有送报纸的,有做家教的,也有在商店或者公司干活的。我和几个同学一起搞家教,我们组织了一个家教小组,他们选我当组长。

Gànshénme de dōu yǒu: Yǒu sòng bàozhǐ de, yǒu zuò jiājiào de, yěyǒu zài shāngdiàn huòzhě gōngsī gàn huó de. Wǒ hé jǐ gè tóngxué yīqǐ gǎo jiājiào, wǒmen zǔzhī le yīgè jiājiào xiǎozǔ, tāmen xuǎn wǒ dāng zǔ zhǎng.

Làm gì cũng có: Có người đi đưa báo, có người làm gia sư, cũng có người làm việc ở cửa hàng hoặc là công ty. Tớ và mấy người bạn cùng làm gia sư, chúng tớ tổ chức một tổ gia sư, họ bầu tớ làm tổ trưởng.

大家都开玩笑地称他为“打工头儿”。

Dàjiā dōu kāiwánxiào de chēng tā wéi “dǎgōng tóur”.

Mọi người đều nói đùa gọi cậu ấy là ” Đại công đầu”.

我想你们打工并不都是为了解决经济问题吧 ?

Wǒ xiǎng nǐmen dǎgōng bìng bù dōu shì wèi liǎo jiějué jīngjì wèntí ba?

Tớ nghĩ các cậu đi làm thêm không phải đều vì giải quyết vấn đề kinh tế chứ?

很多学生是为了早点儿到社会上去锻炼自己,得到一些工作经验。有的学生想知道什么工作适合自己。

Hěnduō xuéshēng shì wèi le zǎodiǎnr dào shèhuì shàngqù duànliàn zìjǐ, dédào yīxiē gōngzuò jīngyàn. Yǒu de xuéshēng xiǎng zhīdào shénme gōngzuò shìhé zìjǐ.

Rất nhiều sinh viên là vì muốn sớm ra xã hội rèn luyện bản thân, có được một số kinh nghiệm làm việc. Có sinh viên muốn biết công việc nào phù hợp với bản thân.

不过,对城市低收入的家庭和很多农民家庭来说,每年拿出那么多的钱来培养一个大学生,确实是一个很重的负担,所以,这些家庭的孩子大部分是靠向银行申请贷款和打工挣钱来完成自己的学习的。

Bùguò, duì chéngshì dì shōurù de jiātíng hé hěnduō nóngmín jiātíng lái shuō, měinián ná chū nàme duō de qián lái péiyǎng yīgè dàxuéshēng, quèshí shì yīgè hěn zhòng de fùdān, suǒyǐ, zhèxiē jiātíng de háizi dà bùfèn shì kào xiàng yínháng shēnqǐng dàikuǎn hé dǎgōng zhèng qián lái wánchéng zìjǐ de xuéxí de.

Nhưng, đối với gia đình có thu nhập thấp trong thành phố và rất nhiều gia đình nông thôn, mỗi năm dùng nhiều tiền như thế để nuôi một sinh viên, quả thực là một gánh nặng lớn, vì thế, con cái những gia đình này hầu hết đầu dựa vào khoản vay ngân hàng và làm thêm kiếm tiền để hoàn thành học tập của mình.

有打工经验的学生是不是更容易找到工作?

Yǒu dǎgōng jīngyàn de xuéshēng shì búshì gèng róngyì zhǎodào gōngzuò?

Sinh viên có kinh nghiệm làm thêm có phải càng dễ tìm được việc không?

也许是这样。打过工的学生在生活经验上,在工作能力上,一般都比没有打过工的学生强。招聘单位当然要考虑一点。但是,如果学生因为打工的时间太多,学生成绩差了,招聘单位也不会欢迎。

Yěxǔ shì zhèyàng. Dǎguò gōng de xuéshēng zài shēnghuó jīngyàn shàng, zài gōngzuò nénglì shàng, yībān dōu bǐ méiyǒu dǎguò gōng de xuéshēng qiáng. Zhāopìn dānwèi dāngrán yào kǎolǜ yīdiǎn. Dànshì, rúguǒ xuéshēng yīnwèi dǎgōng de shíjiān tài duō, xuéshēng chéngjī chà le, zhāopìn dānwèi yě bù huì huānyíng.

Có thể là như thế. Các sinh viên đã làm thêm trong kinh nghiệm cuộc sống trong năng lực làm việc  thường đều tốt hơn các sinh viên không đi làm thêm. Đơn vị tuyển dụng tất nhiên sẽ phải suy nghĩ điểm này rồi. Nhưng nếu như sinh viên vì thời gian làm thêm quá nhiều, kết quả học tập kém, đơn vị tuyển dụng cũng sẽ không hoan nghênh.

1999年,我去新西兰读书。为了减轻父母的负担,我到那儿三个月以后就开始在餐厅打工。

1999 Nián, wǒ qù xīnxīlán dúshū. Wèi le jiǎnqīng fùmǔ de fùdān, wǒ dào nàr sān gè yuè yǐhòu jiù kāishǐ zài cāntīng dǎgōng.

Năm 1999, tôi đến New Zealand đi học. Vì muốn giảm gánh nặng cho bố mẹ, sau khi tôi đến đấy 3 tháng liền bắt đầu đi làm thêm ở quán ăn.

这家餐厅不大,有两层,装修得很漂亮。我每周在这儿打两次工:星期五和星期六从下午四点干到夜里十二点或者更晚。

Zhè jiā cāntīng bù dà, yǒu liǎng céng, zhuāngxiū dé hěn piàoliang. Wǒ měi zhōu zài zhèr dǎ liǎng cì gōng: Xīngqīwǔ hé xīngqīliù cóng xiàwǔ sì diǎn gān dào yèlǐ shí’èr diǎn huòzhě gèng wǎn.

Quán ăn này không lớn , có 2 tầng, trang trí rất đẹp. Tôi mỗi tuần làm thêm ở đây 2 lần: thứ 6 và thứ 7 từ 4h chiều đến 12 h đêm hoặc là muộn hơn.

我在家里连自己的饭碗也很少洗,本来不会干活儿,开始的时候,老板总嫌我动作慢。在打工朋友的帮助下,我很快就学会了干活儿。

Wǒ zài jiālǐ lián zìjǐ de fànwǎn yě hěn shǎo xǐ, běnlái bú huì gàn huór, kāishǐ de shíhòu, lǎobǎn zǒng xián wǒ dòngzuò màn. Zài dǎgōng péngyǒu de bāngzhù xià, wǒ hěn kuài jiù xuéhuì le gàn huór.

Tôi ở nhà đến bát ăn cơm cũng rất ít rửa, vốn không biết làm việc, lúc bắt đầu, ông chủ luôn chê tôi động tác chậm. Nhờ sự giúp đỡ của bạn cùng làm, tôi rất nhanh đã học làm được việc.

我第一次拿到打工报酬的时候,我低着头看看两只泡白了的手,揉揉又累又痛的腰,深深地感觉到挣钱不容易。

Wǒ dì yī cì ná dào dǎgōng bàochóu de shíhòu, wǒ dīzhe tóu kàn kàn liǎng zhī pào bái le de shǒu, róu róu yòu lèi yòu tòng de yāo, shēn shēn de gǎnjué dào zhèng qián bù róngyì.

Lúc tôi lần đầu tiên nhận được tiền công làm thêm, tôi cúi đầu nhìn thấy hai bàn tay bị ngâm trắng,xoa lưng vừa mệt vừa đau, cảm thấy sâu sắc kiếm tiền thật không dễ dàng.

过节的时候,我一周要打三四天工,主要工作是洗盘子。晚上十点以后,盘子最多,高得像座小山似的。我拼命地洗,这座盘子山却总是不变小,当时我想,人要是多长几只手就好了。我常常干到一点多钟,工作才能完成。

Guòjié de shíhòu, wǒ yīzhōu yào dǎ sānsì tiān gōng, zhǔyào gōngzuò shì xǐ pánzi. Wǎnshàng shí diǎn yǐhòu, pánzi zuìduō, gāo dé xiàng zuò xiǎoshān shì de. Wǒ pīnmìng de xǐ, zhè zuò pánzi shān què zǒng shì bù biàn xiǎo, dāngshí wǒ xiǎng, rén yàoshi duō zhǎng jǐ zhī shǒu jiù hǎo le. Wǒ chángcháng gān dào yīdiǎn duō zhōng, gōngzuò cáinéng wánchéng.

Lúc đón năm mới, tôi một tuần phải làm 3, 4 ngày công việc chủ yếu là rửa đĩa. Sau 10 h tối đĩa nhiều nhất, cao như ngọn núi nhỏ vậy. Tôi vất vả rửa, núi đĩa này mãi không nhỏ đi, lúc đó tôi nghĩ, con người nếu có mấy cái tay thì thật tốt. Tôi thường làm việc đến hơn 1h, công việc mới có thể hoàn thành.

圣诞节快到了,饭馆的生意越来越好,我的工作也就一天比一天重。每天我得干十几个小时,把手上的皮都洗破了,腰也直不起来了。

Shèngdàn jié kuài dào le, fànguǎn de shēngyì yuè lái yuè hǎo, wǒ de gōngzuò yě jiù yītiān bǐ yītiān zhòng. Měitiān wǒ děi gàn shí jǐ gè xiǎoshí, bǎshǒu shàng de pí dōu xǐ pò le, yāo yě zhí bù qǐlái le.

Gần đến Giáng Sinh rồi, kinh doanh của quán ăn ngày càng tốt, công việc của tôi cũng ngày một nặng hơn. Mỗi ngày tôi đều phải làm mười mấy giờ, rửa hỏng cả da tay rồi, lưng cũng không thẳng lên được rồi.

我真有点儿支持不住了。有时候我也想:我为什么要出国吃这么大的苦呢?既然父母在不断地给我寄钱,我就可以不打工了,也许我能生活得轻松一点儿。

Wǒ zhēn yǒudiǎnr zhīchí bù zhùle. Yǒu shíhòu wǒ yě xiǎng: Wǒ wèishéme yào chūguó chī zhème dà de kǔ ne? Jìrán fùmǔ zài bùduàn de gěi wǒ jì qián, wǒ jiù kěyǐ bù dǎgōng le, yěxǔ wǒ néng shēnghuó dé qīngsōng yīdiǎnr.

Tôi thật có chút trụ không nổi rồi. Có lúc tôi cũng nghĩ: Tôi vì sao phải ra nước ngoài vất vả thế này chứ? Bố mẹ vẫn gửi tiền cho tôi, tôi có thể không đi làm thêm nữa, có thể tôi sẽ sống nhẹ nhàng hơn một chút.

但是,我很清楚,我父母都是靠工资生活的,我不能跟有钱人家的孩子比。父母是用一辈子的积蓄支持我出国留学的,我怎么能总是靠他们呢?

Dànshì, wǒ hěn qīngchǔ, wǒ fùmǔ dōu shì kào gōngzī shēnghuó de, wǒ bùnéng gēn yǒu qián rénjiā de háizi bǐ. Fùmǔ shì yòng yībèizi de jīxù zhīchí wǒ chūguó liúxué de, wǒ zěnme néng zǒng shì kào tāmen ne?

Nhưng, tôi rất rõ bố mẹ tôi đều sống dựa vào tiền lương, tôi không thể so sánh với con nhà có tiền được. Bố mẹ dùng tiền tích góp cả đời ủng hộ tôi ra nước ngoài du học, tôi làm sao có thể luôn dựa vào bố mẹ chứ?

现在我要早点儿独立生活,自己养活自己。毕业以后有了工作,我要让他们生活得更好,过上幸福的老年生活。

Xiànzài wǒ yào zǎodiǎnr dúlì shēnghuó, zìjǐ yǎnghúo zìjǐ. Bìyè yǐhòu yǒu le gōngzuò, wǒ yào ràng tāmen shēnghuó dé gèng hǎo,guò shàng xìngfú de lǎonián shēnghuó.

Bây giờ tôi phải sớm sống độc lập, tự nuôi sống bản thân. Sau khi tốt nghiệp có công việc rồi, tôi phải để bố mẹ sống tốt hơn, sống tuổi già hạnh phúc.

爸爸妈妈对我说过:“出国以后,什么工作最苦最累,你就从什么工作做起。有了那种经验,以后什么苦你也不会怕了。”

Bàba māmā duì wǒ shuōguò:“Chūguó yǐhòu, shénme gōngzuò zuì kǔ zuì lèi, nǐ jiù cóng shénme gōngzuò zuò qǐ. Yǒu le nà zhǒng jīngyàn, yǐhòu shénme kǔ nǐ yě bù huì pà le.”

Bố mẹ đã nói với tôi: ” Sau khi ra nước ngoài, công việc gì vất vả nhất mệt nhất, con hãy làm từ công việc ấy. Có kinh nghiệm đó, sau này vất vả thế nào con cũng sẽ không sợ nữa.”

所以,在最艰苦时候,我就好像听见妈妈在旁边给我加油:“坚持下去!坚持就是胜利。”

Suǒyǐ, zài zuì jiānkǔ shíhòu, wǒ jiù hǎoxiàng tīngjiàn māmā zài pángbiān gěi wǒ jiāyóu:“Jiānchí xiàqù! Jiānchí jiùshì shènglì.”

Vì thế, lúc gian khổ nhất, tôi dường như nghe thấy mẹ đang ở bên cạnh cổ vũ tôi: ” Tiếp tục Kiên trì! Kiên trì chính là thắng lợi “

2003年我终于读完了大学,而且考上了研究生。父母要我回国过春节。他们看到我长高了、长大了,非常高兴。

2003 Nián wǒ zhōngyú dú wánliǎo dàxué, érqiě kǎo shàng le yánjiūshēng. Fùmǔ yào wǒ huíguóguò chūnjié. Tāmen kàn dào wǒ zhǎng gāo le, zhǎng dà le, fēicháng gāoxìng.

Năm 2003 tôi cuối cũng đã học xong đại học rồi, hơn nữa thi đỗ nghiên cứu sinh rồi. Bố mẹ muốn tôi về nước đón năm mới. Họ nhìn thấy tôi cao hơn, trưởng thành hơn rồi, cực kỳ vui mừng.

妈妈指着我的那双穿旧了的旅游鞋,难过地问我:“孩子,是不是一点钱都没有了?”

Māmā zhǐzhe wǒ de nà shuāng chuān jiù le de lǚyóu xié, nánguò de wèn wǒ:“Háizi, shì bùshì yīdiǎn qián dōu méiyǒu le?”

Mẹ chỉ vào đôi giày du lịch cũ của tôi, buồn rầu hỏi tôi: ” Con trai, có phải hết tiền rồi không?”

“妈,我有钱。我把你们寄给我的钱和打工挣的钱都存在银行里了,以后你们不用再给我寄了。我可以靠打工来完成自己的学习。”

“Mā, wǒ yǒu qián. Wǒ bǎ nǐmen jì gěi wǒ de qián hé dǎgōng zhēng de qián dōu cúnzài yínháng lǐ le, yǐhòu nǐmen bùyòng zài gěi wǒ jì le. Wǒ kěyǐ kào dǎgōng lái wánchéng zìjǐ de xuéxí.”

“Mẹ, con có tiền. Con lấy tiền bố mẹ gửi cho con và tiền làm thêm kiếm được đều gửi vào ngân hàng rồi. Sau này bố mẹ không cần gửi tiền cho con nữa. Con có thể dựa vào làm việc mà hoàn thành việc học của mình.”

爸爸妈妈看着我,满意地笑了。

Bàba māmā kànzhe wǒ, mǎnyì dì xiào le.

Bố mẹ nhìn tôi, cười hài lòng.

HỌC TIẾNG TRUNG Ở ĐÂU UY TÍN TẠI HÀ NỘI?

Gọi điện ngay để tham gia học cùng Tiếng Trung Vui Vẻ!
Hotline: 0984.413.615
Địa chỉ: Số 10a, ngõ 196/8/2 Cầu Giấy, Hà Nội
Website: tiengtrungvuive.edu.vn
Fanpage: Trung tâm Tiếng Trung Vui Vẻ

Bài viết liên quan

Bình luận